/

Đăng Nhập



mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay50
mod_vvisit_counterHôm qua158
mod_vvisit_counterTuần này410
mod_vvisit_counterTuần trước1341
mod_vvisit_counterTháng này3109
mod_vvisit_counterTháng trước5407
mod_vvisit_counterTổng115242

We have: 3 guests online
Today: Tháng 5 21, 2013

Liên kết

 

 

Clip đặc sắc

TÁC DỤNG VIỆC TẬP LUYỆN & GÌN GIỮ VÕ CỔ TRUYỀN DÂN TỘC

Tác dụng và Ý nghĩa việc tập luyện võ cổ truyền dân tộc trong thời đại hiện nay :

* Tác dụng về sức khỏe:

Ở góc độ cá nhân Võ Cổ truyền đem lại sự sảng khoái, thư giãn về tinh thần cũng như thể xác sau mỗi buổi tập, do hệ thống gân, sương, khớp mao mạch trên toàn cơ thể được dãn một cách tối đa làm tăng thêm độ đàn hồi của gân, thớ cơ, thẩm thấu của các nơ ron thần kinh trong hệ thống thần kinh trung ương, máu huyết được lưu thông, các nang phổi được co giãn tối đa nhất dạ dày cũng được co bóp theo sự chuyển động của khí huyết và nội tạng, về kết cấu của sương cũng tăng khả năng rắn chắc hơn. Tóm lại nó có tác dụng rất lớn cho hệ thần kinh, tiêu hóa, hô hấp, sương khớp, huyết mạch, ..Ở Góc nhìn tổng quan: võ cổ truyền còn đem lại sức mạnh về tinh thần cũng như thể trạng cho một gia đình, dòng tộc, tổ chức, một xã hội, một quốc gia như cha ông ta đã răn dạy bằng một câu danh ngôn bất hủ:

Một Người tập võ cường Thân

Một Nhà tập võ thì cường Tộc

Một Xã hội tập võ thì cường Quốc”         

* Văn hóa :

Võ cổ truyền dân tộc không những mang ý nghĩa giá trị về văn hóa cổ truyền của đất nước mà nó còn là bằng chứng sống về sự đấu tranh, xây dựng bảo vệ đất nước của cha ông ta để lại vì Võ Cổ truyền dân tộc gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông ta từ khi đất nước còn trong thời kỳ phát triển từ những bộ tộc, thuộc địa nhỏ…và dưới ách thống trị của các thời kỳ văn hóa phong kiến “chỉ có võ cổ truyền dân tộc mới lưu giữ được các thế đánh, các bài quyền binh khí mà cha ông ta ngàn năm xưa dùng để dựng nước, giữ nước đánh đuổi giặc ngoại xâm lược lãnh thổ” nó được tái hiện lại qua những hội thi, diễn trong các giải thi đấu võ cổ truyền ngày hội làng ngày lễ v..v.. Võ cổ truyền còn đưa người tập hòa đồng với thiên nhiên vũ trụ với cổ xưa khi tập luyện các bài tập các động tác của các loài Linh Thú và Quái Thú như Long, Xà, Hổ, Hạc, Báo, Tôn vv…Vậy chúng ta cần phải tự ý thức phát huy Truyền thống và bảo tồn các bài võ cổ truyền dân tộc cũng như hiểu ý nghĩa việc giữ gìn Tinh Hoa văn hóa Dân Tộc ta.

 

 
GIÁ TRỊ VÔ HẠN CỦA VÕ CỔ TRUYỀN DÂN TỘC

GIÁ TRỊ VÔ HẠN CỦA VÕ CỔ TRUYỀN DÂN TỘC

Điểm lại lịch sử phát triển và tồn tại ta dễ nhận thấy Võ Cổ Truyền của loài người xuất hiện trước cả Chữ viết nó luôn tồn tại phát triển song hành với Loài Người và gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của mỗi Dân Tộc mỗi vùng miền lãnh thổ. Hệ thống võ thuật cổ truyền Dân Tộc không chỉ dừng lại ở việc rèn luyện thân thể giúp con người kéo dài được tuổi thọ hòa đồng được với thiên nhiên vũ trụ, mà thông qua việc rèn luyện “Võ nghệ ” nó còn giúp người tập hiểu được chính đạo .Ông cha ta thường nhắc đến câu danh ngôn với con nhà võ “Lửa thử Vàng-Gian nan thử Sức” có trải qua gian nan luyện tập mới thẩm thấu đánh giá được sức chịu đựng của bản thân . Thuở sơ khai ban đầu tổ tiên ta đã dụng võ để lập quốc, mở mang bờ cõi chống phá không biết bao nhiêu thế lực giặc ngoại xâm, phá tan bao ách Thực Dân, Phong Kiến và Đế Quốc để lại một nền hòa bình cho con cháu tồn tại học tập và phát triển trên một vùng trời bình yên. Sau mỗi cuộc chiến tranh chống xâm lược .Ông Cha ta lại đúc kết được ở mỗi trận đánh những Miếng võ, Thế đánh, phương pháp rèn luyện thân thể một cách tinh vi hiệu quả hơn. Cứ thế từ đời này truyền qua đời khác hệ thống Võ Cổ Truyền Dân Tộc được lưu giữ như một “Báu Vật Sống” không chỉ để rèn luyện thân thể mà còn mong muốn nhắc nhở các con cháu ở thế hệ kế tiếp luôn khắc ghi gìn giữ giá trị, dấu mốc lịch sử đã trải qua của Cha Ông ở những thời kì dựng nước khốc liệt và hào hùng. Ngày nay chúng ta đang sống trong một nền hòa bình tự do phát triển công nghệ, do thiếu sự quan tâm, thiếu sự hiểu biết về tầm quan trọng, ý nghĩa tác dụng cũng như mục đích phát triển bảo tồn tinh hoa nền Võ Học Dân Tộc. Thêm vào đó là sự quảng bá không ngừng của các môn võ “Ngoại nhập” mà chúng ta (người dân Việt) đã dần đánh mất đi ý nghĩa truyền thống của Đất Nước thông qua Võ Cổ Truyền Dân Tộc và cũng dần bị lãng quên mất đi một kho tàng kiến thức, một di sản văn hóa phi vật thể của Dân Tộc với những Tinh Hoa rèn luyện Thân thể và Đạo đức con người trong mọi thời đại.

Ở cuốn sách này như một Tài Liệu chỉ tóm tắt được sơ lược chiều dài lịch sử phát triển, cùng một số khái niệm tác dụng một cách cơ bản nhất trong hệ thống Võ Học Dân Tộc cũng chỉ rõ tác dụng của việc rèn luyện võ thuật cổ truyền dân tộc, giúp những người yêu thích võ cổ truyền có thêm Tư liệu và kiến thức võ của dân tộc. Từ đó Tôi mong muốn mọi người quan tâm ,cũng Hiểu, Ý thức, Trách nhiệm trong việc rèn luyện phát huy bảo tồn bộ Môn Võ Học Dân tộc mà Tổ Tiên ta để lại.

Hà Nội, ngày 17 tháng 10 năm 2012

Biên soạn: Võ sư Đào Minh Phương

 
Danh Ngôn

HÃY LUYỆN TẬP để có                    


Một Sức  Mạnh  Bất  Diệt                                   


Một Tinh Thần Thép                                                                                                         

Một  Trí Tuệ Khai Giác                                                                                                     

Một  Hình Thể Hoàn Mỹ                                                                                                       


v s Đào  Minh  Phương


 

 
lịch sử võ việt

Bài 1

NGUỒN GỐC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÕ THUẬT

QUA CÁC THỜI KỲ

1. Nguồn gốc hình thành hệ thống “VÕ HỌC”

Võ thuật có nguồn gốc lâu đời, bắt nguồn từ khi con người được sinh ra

Võ thuật được hình thành dựa trên cơ sở lý luận sau:

Trái đất -> Loài người -> Đấu tranh -> Sinh tồn -> Hệ thống Võ

Vậy quá trình đấu tranh sinh tồn là cơ sở đầu tiên hình thành lên hệ thống Võ Học

Khi trái đất hình thành, khi có loài người xuất hiện để sinh tồn loài người phải dung hòa được với thiên nhiên, chống lại được những bất lợi từ thiên nhiên như thiên tai: Bão lũ, Động đất, Núi lửa…chống lại các loài thú dữ, thậm chí là đấu tranh ngay giữa bản thân con người với con người như đấu tranh giải phóng Bộ tộc, chống xâm phạm Lãnh Thổ, Vùng Miền hay đấu tranh chống bạo loạn xã hội loài người…

Mỗi vùng miền có sự khác nhau về kết cấu địa hình, môi trường, khí hậu v.v .. đặc biệt môi trường sống khác nhau nên võ thuật cũng không giống nhau và có những đặc trưng riêng.

Ví Dụ : Người phía Đông,phía Nam vùng biển thì võ thuật thiên về bộ tay hơn bộ chân còn người vùng phía Tây, Bắc thì địa hình thích hợp cho việc vận động bay nhảy, leo trèo…. ngược lại họ sử dụng bộ chân linh hoạt hơn bộ tay . Do đặc điểm địa hình và môi trường sống của con người

2. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÕ THUẬT QUA CÁC THỜI KỲ

Ở thời kỳ Cổ đại: (trước thời nhà nước Văn Lang Âu Lạc)

Đây là thời kỳ sơ khai của “VÕ”. Lúc này hệ thống Võ mới chỉ ở mức độ đơn giản với các thế đánh mang tính chất dựa trên sức mạnh của con người. Vũ khí được sử dụng ở giai đoạn này chủ yếu là từ các công cụ sản xuất gắn liền với hình thái săn bắt, hái lượm. Vì vậy, vũ khí rất thô sơ như: gậy gộc các vũ khí làm từ những viên đá

Thời kỳ Trung đại (thời nhà nước Văn Lang Âu Lạc):

Thời kỳ này con người sử dụng võ thuật chủ yếu để chống lại thú dữ đấu tranh bảo vệ Bộ lạc, chống lại sự xâm chiếm lãnh thổ. Hệ thống Võ chủ yếu được lưu giữ qua các Hình Ảnh minh họa khắc trên đá. Hoặc hình ảnh Săn Bắn , đấu võ in trên trống đồng

Võ thuật phát triển hơn qua các hệ thống Quyền thuật, Miếng đánh, Binh khí được nghiên cứu phát triển, đa dạng hơn.

Do thời kỳ này đã xuất hiện chữ viết nên võ thuật được chú trọng lưu giữ và phát triển hơn trước, được viết thành sách, trong quá trình luyện tập, sử dụng võ thuật con người đúc kết lại từ các đòn đánh, thế đánh giữa con người với thiên nhiên, con người với muôn thú, con người với con người và võ thuật được biến đổi để phù hợp với cơ thể của con người.

Binh khí ngày càng đa dạng hơn ngoài các công cụ được sử dụng trong quá trình lao động sản xuất thì binh khí còn được chế tạo riêng. Binh khí phổ thông như Cung tên, Côn, Kiếm, Đao, Thương, Khiên (Lá chắn).

Võ thuật được ứng dụng trong tự vệ, chống lại sự xâm chiếm lãnh thổ, xâm chiếm thuộc địa…

Thời kỳ cận đại

Võ thuật được hệ thống hóa thành sách như Bí kíp, Binh thư..là cơ sở hình thành đặc trưng của từng môn phái.

Ứng dụng của võ thuật trong thời kỳ này: Võ thuật dùng để tự vệ giữa con người với con người, chống xâm chiếm lãnh thổ, phát triển tiềm năng bí ẩn của con người, lúc này võ thuật được hệ thống hóa dựa vào nền tảng của khoa học. Ngoài những ứng dụng trên nó còn được đưa vào huấn luyện chủ yếu cho binh sĩ, chiến lược, trận đồ (võ trận ).

Nhìn chung ở thời kỳ này võ thuật đã phát triển được ở đỉnh cao tối đa về khả năng chiến đấu, sinh tồn và lưu truyền khắp nhân gian. Trong quá trình đô hộ, khống chế của các cuộc chiến tranh xâm lược tư liệu võ thuật và các tư liệu liên quan đã bị kẻ địch tìm mọi cách để thu thập và tiêu hủy.

Thời kỳ hiện đại

Võ thuật được phát triển như một hành vi khôi phục lại những tinh hoa còn “sót lại” và được hệ thống hóa theo khoa học.

Võ thuật được phát triển ở các hình thức sau:

Hệ thống hóa thành thể thao với mục đích tập luyện, rèn luyện sức khỏe, giao lưu văn hóa với các nước bạn.

Hệ thống hóa thành y học chữa bệnh như dưỡng sinh, khí công, yoga…

Tự vệ giữa con người với con người.

Huấn luyện quân đội, an ninh quốc phòng chống xâm lược lãnh thổ và bảo vệ tổ quốc, chống bạo loạn xã hội.

Rèn luyện, khám phá, khai thác tiềm năng của cơ thể con người.

Ví dụ: tay không đóng đinh vào gỗ, chặt gạch, sỏi bằng tay.. vv…

Ở thời kì này võ thuật được truyền dạy 1 cách công khai có bài bản, có hệ thống thi đấu, huấn luyện ,biểu diễn được nhà nước công nhận và cho phép đăng kí bản quyền. Từ những năm 1980 trở về đây một số cá nhân tổ chức đã thành lập được hệ thống hoạt động, huấn luyện giảng dạy và truyền bá.

Ví dụ: năm 1986 Hội võ thuật cổ truyền thành phố Hà Nội được thành lập rồi các hội võ cổ truyền như: tỉnh Thừa Thiên Huế, tỉnh Bình Định, tỉnh Quảng Nam, tỉnh Khánh Hòa, tỉnh Lâm Đồng,..vv…

Các hội có chức năng vận động khuyến khích các cá nhân ,môn phái, dòng phái, câu lạc bộ tham gia giảng dạy, truyền bá mọi hoạt động của võ cổ truyền đăng ký, cấp chứng nhận, giấy giới thiệu cho các tổ chức có nhu cầu. Tổ chức các giải, hội diễn nhằm mở rộng giao lưu các kiến thức võ học giữa các dòng phái khuyến khích phát triển nhân lực đội ngũ võ sư, huấn luyện viên chuyên nghiệp kế tiếp.

Cũng từ đây năm 1991 võ cổ truyền đã chính thức thành lập được liên đoàn võ cổ truyền Việt Nam, được tổ chức lần đầu tiên tại thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa với mục đích quy tụ các hội võ cổ truyền các tỉnh thành với nhau.Tổ chức quy mô các giải đấu toàn quốc và thế giới có tính chuyên nghiệp và quy mô hơn được nhà nước (Ban chấp hành trung ương) chấp nhận,và đưa ra được hệ thống chương trình giáo án, huấn luyện chuyên sâu toàn quốc ở nội dung: Quyền thuật, binh khí, đối luyện, đối kháng, y võ..vv…Cũng như cơ cấu quản lý như sau:

Cấp cơ sở: CLB, Võ đường, Môn phái (cấp cơ sở) à Hội tỉnh thành, Sở TDTT tỉnh thành (cấp thành phố) à LĐVCT Việt Nam (cấp quốc gia).

A. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN “VÕ CỔ TRUYỀN” Ở VIỆT NAM

Đất nước ta trải qua hơn 4000 nghìn năm dựng nước và giữ nước dấu tích còn lưu giữ qua các nhân vật và sự kiện rất oai hùng chống giặc ngoại xâm và qua các cuộc khởi nghĩa ở thời vua nhà Lý, Trần, Lê, Nguyễn …

Ở thời kỳ nhà Lý nước việt ta vẫn còn là thuộc địa của Trung Quốc sau bao cuộc khởi nghĩa muốn thoát ra khỏi ách thống trị xâm lược lãnh thổ của Trung Quốc như Khởi nghĩa Hai Bà Trưng mở ra thời kỳ tiền khởi nghĩa đấu tranh chống giặc ngoại xâm tiếp nối sau đó là khởi nghĩa của Ngô Quyền (chiến thắng Bạch đằng), vua Quang Trung (trận Ngọc Hồi- Đống Đa, khởi nghĩa Tây Sơn Bình định) v.v... ở thành Thăng Long nay gọi là Hà Nội có Giảng Võ (Là nơi huấn luyện võ thuật cho các binh sỹ trong triều đình qua các thời kỳ dựng nước). Ở thời kỳ này võ thuật phát triển mạnh và có hệ thống. Cuối triều đại nhà Nguyễn (cuối Thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX) đất nước ta lại bị giặc pháp đô hộ, vũ khí chiến tranh được sử dụng tinh vi hơn bằng các công nghệ sản xuất của Châu Âu như Súng, Thuốc nổ và Pháo thần công (Pháo cổ). Võ thuật Việt Nam dần dần được hệ thống hóa phù hợp với thời điểm lúc đó. Khoảng từ những 1890 – 1980 trở về trước, năm 1890-1964 (kháng chiến chống Pháp), 1968-1975 (kháng chiến chống Mỹ), 1976-1979 (chiến tranh biên giới phía bắc với Trung Quốc). Trong giai đoạn 1968-1979, đất nước ta bị chia cắt làm 2 miền Nam-Bắc. Miền Bắc chống Trung Quốc, miền Nam chống đế quốc Mỹ và chiến tranh biên giới phái Tây Nam (với Campuchia). Dưới ách đô hộ của thực dân pháp và đế quốc Mỹ (để dễ bề cai trị một dân tộc nhỏ bé nhưng giàu lòng yêu nước) các loại tư liệu võ thuật đã bị tịch thu và tiêu hủy ngoài ra chính quyền ở thời điểm đó còn không ngừng cấm mọi hoạt động truyền dạy và huấn luyện võ thuật nhằm giảm bớt sự nổi dậy và khả năng chiến đấu của nhân dân ở các vùng miền trên lãnh thổ Việt Nam. Kinh tế nhân dân trong thời kỳ cũng trở lên khốn khó phải lo ăn hàng ngày để tồn tại. Dưới ách thống trị của thực dân pháp nhân dân ta không ngừng nổi dậy khởi nghĩa ở khắp nơi trên các vùng miền lãnh thổ như khởi nghĩa của các danh tướng như Hoàng Hoa Thám, Phan Đình Phùng, Phan Chu Chinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Trung Trực v.v… Tóm lại hệ thống võ của nước ta cũng thăng trầm theo suốt quá trình chiều dài của lịch sử dựng nước và giữ nước và chủ yếu bị hai thế lực thù địch là Tàu (Trung Quốc), Pháp (Châu Âu) xâm chiếm và đô hộ trong suốt hàng nghìn năm lịch sử .Nên hệ thống Võ trên đất nước ta tồn tại ba dòng phái chính là: võ Tàu (Trung Quốc), Võ Tây (Quyền Anh), Võ Ta (Võ Dân Tộc). Hệ thống võ Tây đặc trưng như bộ môn quyền anh chỉ sử dụng chủ yếu kỹ thuật ba quả đấm là đấm thẳng ,móc ngược, móc ngang. Nó phát triển phổ biến rộng ở khu vực miền trung và miền nam ở những năm 1970 -1980. Giữa thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trở về trước đất nước Việt Nam tồn tại hai dòng võ chính là “Võ Tàu” và “Võ Ta”. Từ năm 1980 trở lại đây do tình hình phát triển về công nghệ nghe nhìn, thông tin truyền thông như (báo chí, đài, sách võ, truyện đọc kiếm hiệp, phim truyền hình như phim chưởng, kiếm hiệp, mạng internet. vv…) nhờ vậy mà văn hóa võ ngoại nhập đi sâu và quá nhanh vào mọi người dân và giới trẻ. Thời gian này các môn võ nổi tiếng của Nhật bản (KaRaTe), Hàn quốc (TaeKonDo), Trung quốc (Thiếu Lâm, Võ Đang, Nga My, Vịnh Xuân), Inđônêia (PenCacSiLat), Thái lan (Muay) ,… và cái tên (Võ Ta) dần mất đi và gần như không còn ai nhắc đến nữa kể cả hình ảnh cũng như chuyển động đặc trưng của Võ Ta mà được thay vào đó bằng từ Võ Cổ truyền chung chung cả võ Ta lẫn võ Tàu. Hiện nay đa số người dân Việt hiểu lầm ý nghĩa Võ Cổ truyền và Võ Cổ truyền dân tộc là như nhau. Nhưng thực chất từ Võ Cổ truyền nghĩa là hệ thống võ có lịch sử từ một vài trăm năm được truyền lại ở Việt Nam có thể là võ Tàu, Campuchia, Thái Lan... Hiện nay hệ thống võ này đang mang hình thức của một ( Hệ thống võ quảng bá). Chính vì vậy, nó có các hệ thống biểu diễn như quyền thuật, binh khí, đối luyện, đối kháng riêng biệt mục đích nhằm rèn luyện thân thể,tôn vinh vẻ đẹp của hệ thống Võ Cổ truyền… tăng cường giao lưu, đoàn kết giữ các vùng miền, lãnh thổ trên toàn quốc gia cũng như trên thế giới .

Còn Võ Cổ truyền Dân Tộc chúng ta phải hiểu là hệ thống võ của người Việt Cổ được đúc kết, rèn luyện, trau chuốt và lưu truyền từ thời xa xưa để lại. Nó đi theo suốt quá trình lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc và hiện nay vẫn được truyền dạy ở khắp các vùng miền, lãnh thổ quốc gia. Hệ thống võ này còn được hiểu như là một hệ thống võ lưu truyền của dân tộc (Võ gia truyền). Nó mang đậm nét về kỹ thuật chiến đấu của loài người, muông thú rất độc đáo và đa dạng của người Việt. Nó tồn tại như một báu vật của các dòng họ, linh khí, nền tảng của nền võ học Cổ truyền dân tộc. Môn võ này được truyền dạy trên cơ sở: chiêu thức (hệ thống chuyển động, động tác võ chiến đấu), phương pháp luyện công phu (cách thức để rèn luyện các chiêu thức đạt đến độ hoàn hảo trên các yếu tố chính như Tinh, Nhanh, Mạnh, Chính xác), kinh dịch và phổ khuyết (chỉ rõ những ứng dụng của các chiêu thức võ thuật trong đời sống, sự tồn tại của con người).

B. Ứng dụng của võ thuật đối với đời sống trong các thời kỳ:

Võ thuật dùng để tự vệ sinh tồn, chống bạo loạn, chống chiến tranh xâm lược địa bàn, lãnh thổ quốc gia, y học chữa bệnh, giao lưu văn hóa nghệ thuật, huấn luyện quân đội, an ninh quốc phòng, rèn luyện thể chất, tinh thần, sức chịu đựng, khám phá tiềm năng bí ẩn… của cá nhân mỗi con người.

Võ thuật cổ truyền là một môn văn hóa- nghệ thuật cổ được hình thành trước cả chữ viết nó thường gắn bó rất sâu sắc trong lịch sử dựng nước và giữ nước của tất cả các dân tộc trên thế giới, nó còn là đặc trưng văn hóa của từng vùng miền từng lãnh thổ.

n Võ thuật phương Tây (châu Âu)

Người luyện có thân hình to lớn, đồ sộ vì vậy võ thuật của họ phát triển thiên về ngoại hình, thường sử dụng sức mạnh, kém về sự di chuyển và vận động thường thiên về khả năng chịu lực.

Nó là cơ sở hình thành bộ môn quyền anh, lấy bộ môn này làm nền tảng cho Võ Cổ truyền của võ thuật châu Âu với đặc trưng chủ yếu là 3 quả đấm chính: đấm thẳng, đấm móc, đấm vòng. Đòn đánh ngắn, đơn giản không hoa mỹ, cầu kì…

n Võ thuật phương Đông

Người Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Thái Lan, In-đô-nê-xi-a…thân hình nhỏ bé thiên về tốc độ, yếu về sức mạnh, yếu về khả năng chịu đựng hơn người phương Tây. Nên những đòn đánh thường linh hoạt, hoa mỹ hơn, sử dụng chủ yếu là tốc độ, binh khí, sự dẻo dai linh hoạt và tạo ra được hệ thống Võ Cổ truyền của từng đất nước: Việt Nam có Võ Cổ truyền gồm các môn phái võ…và các hệ thống bài chuẩn quy định của Quốc gia, võ dân tộc (các

Đọc thêm...
 
LỜI DẠY CỦA KHỔNG TỬ .

Có trí thì ham học                                                                                          

Bất trí thì ham chơi

Trí khôn tạo nên người

Đức nhân tìm ra bạn

Thành đạt nhờ trí sáng

Danh vọng nhờ đức đầy

Làm nên nhớ có thầy

Đầy đủ nhớ có bạn

Gái ngoan nhớ đức hạnh

Trai mạnh nhờ lực cường

Tươi đẹp lắm người thương

Lực cường nhường kẻ mạnh

Dể thích nghi thì sống

Biết năng động thì nên

Đủ sức bền thì thắng

Biết mình khi hoạn nạn

Hiểu bạn lúc gian nguy

Nghèo hèn bởi tử vi

Ngu si vì tự phụ

Tài đức cao hơn phú

Hạnh phúc đủ hơn giàu

Sống trung tín bền lâu

Tình nghĩa sâu hạnh phúc

Đủ tài thì đỡ cực

Đủ sức thì đỡ nghèo

Dốt nát hay làm theo

Biết nhiều bởi học tập

Hỏng việc vì hấp tấp

Va vấp bởi vội vàng

Cảnh giác với lời khen

Bình tâm nghe lời trách

Quá nghiêm thì ít bạn

Dễ dãi bạn khinh nhờn

Không hứa hảo là khôn

Không tin sằng ít vạ

Làm ơn đừng mong trả

Được ơn nhớ đừng quên

Nhu nhược bị ép chèn

Quá cương thường bị gãy

Cái quý thường khó thấy

Dễ thấy thường của tôi




Của rẻ là của ôi

Dùng người tối sinh vạ

Đẹp lòng hơn tốt mã

Nền nã hơn kiêu kỳ

Thận trọng từng bước đi

Xét suy khi hành động

Hiểu biết nhiều dễ sống

Luôn chủ động dễ thành

Thận trọng trước lợi danh

Giữ mình đừng buôn thả

Tránh xa phường trí đá

Tai vạ bởi nể nang

Tài giỏi chớ khoe khoang

Giàu sang đừng kinh kiệu

Học bao nhiêu vẫn thiếu

Hiểu bao nhiêu chẳng thừa

Nhân đức chớ bán mua

Được thua không nản chí

Đủ đức tài bớt lụy

Đủ dũng khí chẳng hàng

Có vợ đảm thì sang

Có bạn vàng thì quý

Đói nghèo vì bệnh sỉ

Quẩn trí dễ làm liều

Tỉnh táo với tình yêu

Biết điều khi yếu thế

Lo việc nhà chớ kể

Tình nghĩa chớ đếm đong

Giữ trọn chữ hiếu trung

Với tổ tiên gia tộc

Cây tốt tươi nhờ đất

Người phúc lộc nhờ nguồn

Sống bất nghĩa tai ương

Sống bất lương tù ngục

Phải cầu xin là nhục

Phải khuất phục là hèn

Hay đố kỵ nhỏ nhen

Hay chèn ép độc ác

Lắm gian truân càng sáng

Lắm hoạn nạn càng tinh

Với mình phải nghiêm minh

Với chúng sinh nhân ái

Đang thắng phòng khi bại

Gặt hái phòng mất mùa

Thói quen thường khó chừa

Say xưa thường khó tỉnh

Sống ỉ lại ăn sẵn

Hay đua đòi hoạn nạn

Quá dễ hay tai ương

Gia đình trọng yêu thương

Sống nhường nhịn hỉ hả

Thiếu tình thương man trá

Dẫu vàng đá cũng tan

Biết dạy dỗ con ngoan

Biết bảo ban con giỏi

Tinh khôn nhờ học hỏi

Cứng cỏi nhờ luyện rèn

Sống vì nhau dễ bền

Sống vì tiền dễ vỡ

Rèn con từ lúc bé

Khuyên vợ lúc mới về

Muốn hiểu cần lắng nghe

Thích khoe thì trí cạn

Sống dựa dẫm ngu đần

Sống bất cần phá sản

Nhận bạc dễ bán mình

Kẻ tồi chơi xấu bạn

Khốn nạn quên mẹ cha

Tốt đẹp hãy bày ra

Xấu xa nên che lại

Có hại sẽ diệt vong

Nhiều tham vọng long đong

Lắm ước mong lận đận

Hay vội vàng hối hận

Quá cẩn thận lỗi thời

Biết được người là sáng

Hiểu được bạn là khôn

Khiêm tốn là tự tôn

Kiêu căng là tự sát

Hứa trước thì khó đạt

Hèn nhát thì khó thành

Thù hận bởi lợi danh

Tranh dành bởi chức vị

Giàu sang hay đố kỵ

Tài trí sinh ghét ghen

Tham giàu thì cuồng điên

Tham quyền thì độc ác

Vì tiền thì dễ tan

Vì tình nghĩa bền lâu

Người hiểu nói trọn câu

Kẻ dốt tâu phách lối

Có quyền thì hám lợi

Có tội thường xum xuê

Khờ dại hay bị lừa

Nói bừa hay vạ miệng

Đa ngôn thì tai tiếng

Ngậm miệng dễ được tin

Hám lợi hay cầu xin

Hám quyền hay xu nịnh

Tham quyền thường bất chính

Xu nịnh thường gian trá

Lười biến thường kêu ca

Thật thà hay oan trái

Thẳng thắn hay bị hại

Thông thái hay bị lừa

Chiều con quá con hư

Tiền của dư con hỏng

Giàu mạnh thường thao túng

Nghèo vụng thường theo đuôi

Người tài giỏi khó chơi

Kẻ chay lười khó bảo

Thành tâm thì đắc đạo

Mạnh bạo việc dễ thành

Quân tử thì trọng danh

Tiểu nhân thường trọng lợi

Bất tài hay đòi hỏi

Học hỏi khó khiêm nhường

Tình nghĩa thường khó quên

Nợ duyên thường khó trả

Khó thuần phục kẻ sỉ

Khó phòng bị tướng tài

Biết chấp nhận thảnh thơi

Hay hận đời đau khổ

Của quý thường khó giữ

Con cầu thường khó nuôi

Nhà dư của hiếm con

Nhà lắm người bạc cạn

Khó gần người quá sạch

Vắng khách tại quá nghèo

Dễ nỗi danh kỳ hiền

Dễ kiếm tiền khó giữ

Kiếp người là duyên nợ

Lành vỡ là thường tình

Bại thành bởi tài lực

Thời gian đừng uổng phí

Thời cơ khó bỏ qua

Biết suy nghĩ sâu xa

Vững vàng khi thành bại

Cần học và hành mãi

Sẽ gặt hái thành công.

 

 

 
« Bắt đầuLùi123Tiếp theoCuối »

Hình Ảnh Tiêu Biểu

vothuatkungfu

vothuatkungfu

vothuatkungfu

vothuatkungfu

vothuatkungfu

vothuatkungfu

vothuatkungfu

vothuatkungfu

vothuatkungfu

vothuatkungfu

vothuatkungfu

vothuatkungfu

vothuatkungfu

vothuatkungfu

vothuatkungfu

vothuatkungfu

vothuatkungfu

vothuatkungfu


























Xây dựng bởi sauITbk Email: thatdaycoming@gmail.com.
Địa chỉ: Lương Thế Vinh - Thanh Xuân - Hà Nội - Việt Nam
Liên hệ: Võ sư Đào Minh Phương - ĐT: 01273.03.13.23
Email: vothuatkungfu@gmail.com