|
Bài 1
NGUỒN GỐC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÕ THUẬT
QUA CÁC THỜI KỲ
1. Nguồn gốc hình thành hệ thống “VÕ HỌC”
Võ thuật có nguồn gốc lâu đời, bắt nguồn từ khi con người được sinh ra
Võ thuật được hình thành dựa trên cơ sở lý luận sau:
Trái đất -> Loài người -> Đấu tranh -> Sinh tồn -> Hệ thống Võ
Vậy quá trình đấu tranh sinh tồn là cơ sở đầu tiên hình thành lên hệ thống Võ Học
Khi trái đất hình thành, khi có loài người xuất hiện để sinh tồn loài người phải dung hòa được với thiên nhiên, chống lại được những bất lợi từ thiên nhiên như thiên tai: Bão lũ, Động đất, Núi lửa…chống lại các loài thú dữ, thậm chí là đấu tranh ngay giữa bản thân con người với con người như đấu tranh giải phóng Bộ tộc, chống xâm phạm Lãnh Thổ, Vùng Miền hay đấu tranh chống bạo loạn xã hội loài người…
Mỗi vùng miền có sự khác nhau về kết cấu địa hình, môi trường, khí hậu v.v .. đặc biệt môi trường sống khác nhau nên võ thuật cũng không giống nhau và có những đặc trưng riêng.
Ví Dụ : Người phía Đông,phía Nam vùng biển thì võ thuật thiên về bộ tay hơn bộ chân còn người vùng phía Tây, Bắc thì địa hình thích hợp cho việc vận động bay nhảy, leo trèo…. ngược lại họ sử dụng bộ chân linh hoạt hơn bộ tay . Do đặc điểm địa hình và môi trường sống của con người
2. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÕ THUẬT QUA CÁC THỜI KỲ
Ở thời kỳ Cổ đại: (trước thời nhà nước Văn Lang Âu Lạc)
Đây là thời kỳ sơ khai của “VÕ”. Lúc này hệ thống Võ mới chỉ ở mức độ đơn giản với các thế đánh mang tính chất dựa trên sức mạnh của con người. Vũ khí được sử dụng ở giai đoạn này chủ yếu là từ các công cụ sản xuất gắn liền với hình thái săn bắt, hái lượm. Vì vậy, vũ khí rất thô sơ như: gậy gộc các vũ khí làm từ những viên đá
Thời kỳ Trung đại (thời nhà nước Văn Lang Âu Lạc):
Thời kỳ này con người sử dụng võ thuật chủ yếu để chống lại thú dữ đấu tranh bảo vệ Bộ lạc, chống lại sự xâm chiếm lãnh thổ. Hệ thống Võ chủ yếu được lưu giữ qua các Hình Ảnh minh họa khắc trên đá. Hoặc hình ảnh Săn Bắn , đấu võ in trên trống đồng
Võ thuật phát triển hơn qua các hệ thống Quyền thuật, Miếng đánh, Binh khí được nghiên cứu phát triển, đa dạng hơn.
Do thời kỳ này đã xuất hiện chữ viết nên võ thuật được chú trọng lưu giữ và phát triển hơn trước, được viết thành sách, trong quá trình luyện tập, sử dụng võ thuật con người đúc kết lại từ các đòn đánh, thế đánh giữa con người với thiên nhiên, con người với muôn thú, con người với con người và võ thuật được biến đổi để phù hợp với cơ thể của con người.
Binh khí ngày càng đa dạng hơn ngoài các công cụ được sử dụng trong quá trình lao động sản xuất thì binh khí còn được chế tạo riêng. Binh khí phổ thông như Cung tên, Côn, Kiếm, Đao, Thương, Khiên (Lá chắn).
Võ thuật được ứng dụng trong tự vệ, chống lại sự xâm chiếm lãnh thổ, xâm chiếm thuộc địa…
Thời kỳ cận đại
Võ thuật được hệ thống hóa thành sách như Bí kíp, Binh thư..là cơ sở hình thành đặc trưng của từng môn phái.
Ứng dụng của võ thuật trong thời kỳ này: Võ thuật dùng để tự vệ giữa con người với con người, chống xâm chiếm lãnh thổ, phát triển tiềm năng bí ẩn của con người, lúc này võ thuật được hệ thống hóa dựa vào nền tảng của khoa học. Ngoài những ứng dụng trên nó còn được đưa vào huấn luyện chủ yếu cho binh sĩ, chiến lược, trận đồ (võ trận ).
Nhìn chung ở thời kỳ này võ thuật đã phát triển được ở đỉnh cao tối đa về khả năng chiến đấu, sinh tồn và lưu truyền khắp nhân gian. Trong quá trình đô hộ, khống chế của các cuộc chiến tranh xâm lược tư liệu võ thuật và các tư liệu liên quan đã bị kẻ địch tìm mọi cách để thu thập và tiêu hủy.
Thời kỳ hiện đại
Võ thuật được phát triển như một hành vi khôi phục lại những tinh hoa còn “sót lại” và được hệ thống hóa theo khoa học.
Võ thuật được phát triển ở các hình thức sau:
Hệ thống hóa thành thể thao với mục đích tập luyện, rèn luyện sức khỏe, giao lưu văn hóa với các nước bạn.
Hệ thống hóa thành y học chữa bệnh như dưỡng sinh, khí công, yoga…
Tự vệ giữa con người với con người.
Huấn luyện quân đội, an ninh quốc phòng chống xâm lược lãnh thổ và bảo vệ tổ quốc, chống bạo loạn xã hội.
Rèn luyện, khám phá, khai thác tiềm năng của cơ thể con người.
Ví dụ: tay không đóng đinh vào gỗ, chặt gạch, sỏi bằng tay.. vv…
Ở thời kì này võ thuật được truyền dạy 1 cách công khai có bài bản, có hệ thống thi đấu, huấn luyện ,biểu diễn được nhà nước công nhận và cho phép đăng kí bản quyền. Từ những năm 1980 trở về đây một số cá nhân tổ chức đã thành lập được hệ thống hoạt động, huấn luyện giảng dạy và truyền bá.
Ví dụ: năm 1986 Hội võ thuật cổ truyền thành phố Hà Nội được thành lập rồi các hội võ cổ truyền như: tỉnh Thừa Thiên Huế, tỉnh Bình Định, tỉnh Quảng Nam, tỉnh Khánh Hòa, tỉnh Lâm Đồng,..vv…
Các hội có chức năng vận động khuyến khích các cá nhân ,môn phái, dòng phái, câu lạc bộ tham gia giảng dạy, truyền bá mọi hoạt động của võ cổ truyền đăng ký, cấp chứng nhận, giấy giới thiệu cho các tổ chức có nhu cầu. Tổ chức các giải, hội diễn nhằm mở rộng giao lưu các kiến thức võ học giữa các dòng phái khuyến khích phát triển nhân lực đội ngũ võ sư, huấn luyện viên chuyên nghiệp kế tiếp.
Cũng từ đây năm 1991 võ cổ truyền đã chính thức thành lập được liên đoàn võ cổ truyền Việt Nam, được tổ chức lần đầu tiên tại thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa với mục đích quy tụ các hội võ cổ truyền các tỉnh thành với nhau.Tổ chức quy mô các giải đấu toàn quốc và thế giới có tính chuyên nghiệp và quy mô hơn được nhà nước (Ban chấp hành trung ương) chấp nhận,và đưa ra được hệ thống chương trình giáo án, huấn luyện chuyên sâu toàn quốc ở nội dung: Quyền thuật, binh khí, đối luyện, đối kháng, y võ..vv…Cũng như cơ cấu quản lý như sau:
Cấp cơ sở: CLB, Võ đường, Môn phái (cấp cơ sở) à Hội tỉnh thành, Sở TDTT tỉnh thành (cấp thành phố) à LĐVCT Việt Nam (cấp quốc gia).
A. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN “VÕ CỔ TRUYỀN” Ở VIỆT NAM
Đất nước ta trải qua hơn 4000 nghìn năm dựng nước và giữ nước dấu tích còn lưu giữ qua các nhân vật và sự kiện rất oai hùng chống giặc ngoại xâm và qua các cuộc khởi nghĩa ở thời vua nhà Lý, Trần, Lê, Nguyễn …
Ở thời kỳ nhà Lý nước việt ta vẫn còn là thuộc địa của Trung Quốc sau bao cuộc khởi nghĩa muốn thoát ra khỏi ách thống trị xâm lược lãnh thổ của Trung Quốc như Khởi nghĩa Hai Bà Trưng mở ra thời kỳ tiền khởi nghĩa đấu tranh chống giặc ngoại xâm tiếp nối sau đó là khởi nghĩa của Ngô Quyền (chiến thắng Bạch đằng), vua Quang Trung (trận Ngọc Hồi- Đống Đa, khởi nghĩa Tây Sơn Bình định) v.v... ở thành Thăng Long nay gọi là Hà Nội có Giảng Võ (Là nơi huấn luyện võ thuật cho các binh sỹ trong triều đình qua các thời kỳ dựng nước). Ở thời kỳ này võ thuật phát triển mạnh và có hệ thống. Cuối triều đại nhà Nguyễn (cuối Thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX) đất nước ta lại bị giặc pháp đô hộ, vũ khí chiến tranh được sử dụng tinh vi hơn bằng các công nghệ sản xuất của Châu Âu như Súng, Thuốc nổ và Pháo thần công (Pháo cổ). Võ thuật Việt Nam dần dần được hệ thống hóa phù hợp với thời điểm lúc đó. Khoảng từ những 1890 – 1980 trở về trước, năm 1890-1964 (kháng chiến chống Pháp), 1968-1975 (kháng chiến chống Mỹ), 1976-1979 (chiến tranh biên giới phía bắc với Trung Quốc). Trong giai đoạn 1968-1979, đất nước ta bị chia cắt làm 2 miền Nam-Bắc. Miền Bắc chống Trung Quốc, miền Nam chống đế quốc Mỹ và chiến tranh biên giới phái Tây Nam (với Campuchia). Dưới ách đô hộ của thực dân pháp và đế quốc Mỹ (để dễ bề cai trị một dân tộc nhỏ bé nhưng giàu lòng yêu nước) các loại tư liệu võ thuật đã bị tịch thu và tiêu hủy ngoài ra chính quyền ở thời điểm đó còn không ngừng cấm mọi hoạt động truyền dạy và huấn luyện võ thuật nhằm giảm bớt sự nổi dậy và khả năng chiến đấu của nhân dân ở các vùng miền trên lãnh thổ Việt Nam. Kinh tế nhân dân trong thời kỳ cũng trở lên khốn khó phải lo ăn hàng ngày để tồn tại. Dưới ách thống trị của thực dân pháp nhân dân ta không ngừng nổi dậy khởi nghĩa ở khắp nơi trên các vùng miền lãnh thổ như khởi nghĩa của các danh tướng như Hoàng Hoa Thám, Phan Đình Phùng, Phan Chu Chinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Trung Trực v.v… Tóm lại hệ thống võ của nước ta cũng thăng trầm theo suốt quá trình chiều dài của lịch sử dựng nước và giữ nước và chủ yếu bị hai thế lực thù địch là Tàu (Trung Quốc), Pháp (Châu Âu) xâm chiếm và đô hộ trong suốt hàng nghìn năm lịch sử .Nên hệ thống Võ trên đất nước ta tồn tại ba dòng phái chính là: võ Tàu (Trung Quốc), Võ Tây (Quyền Anh), Võ Ta (Võ Dân Tộc). Hệ thống võ Tây đặc trưng như bộ môn quyền anh chỉ sử dụng chủ yếu kỹ thuật ba quả đấm là đấm thẳng ,móc ngược, móc ngang. Nó phát triển phổ biến rộng ở khu vực miền trung và miền nam ở những năm 1970 -1980. Giữa thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trở về trước đất nước Việt Nam tồn tại hai dòng võ chính là “Võ Tàu” và “Võ Ta”. Từ năm 1980 trở lại đây do tình hình phát triển về công nghệ nghe nhìn, thông tin truyền thông như (báo chí, đài, sách võ, truyện đọc kiếm hiệp, phim truyền hình như phim chưởng, kiếm hiệp, mạng internet. vv…) nhờ vậy mà văn hóa võ ngoại nhập đi sâu và quá nhanh vào mọi người dân và giới trẻ. Thời gian này các môn võ nổi tiếng của Nhật bản (KaRaTe), Hàn quốc (TaeKonDo), Trung quốc (Thiếu Lâm, Võ Đang, Nga My, Vịnh Xuân), Inđônêia (PenCacSiLat), Thái lan (Muay) ,… và cái tên (Võ Ta) dần mất đi và gần như không còn ai nhắc đến nữa kể cả hình ảnh cũng như chuyển động đặc trưng của Võ Ta mà được thay vào đó bằng từ Võ Cổ truyền chung chung cả võ Ta lẫn võ Tàu. Hiện nay đa số người dân Việt hiểu lầm ý nghĩa Võ Cổ truyền và Võ Cổ truyền dân tộc là như nhau. Nhưng thực chất từ Võ Cổ truyền nghĩa là hệ thống võ có lịch sử từ một vài trăm năm được truyền lại ở Việt Nam có thể là võ Tàu, Campuchia, Thái Lan... Hiện nay hệ thống võ này đang mang hình thức của một ( Hệ thống võ quảng bá). Chính vì vậy, nó có các hệ thống biểu diễn như quyền thuật, binh khí, đối luyện, đối kháng riêng biệt mục đích nhằm rèn luyện thân thể,tôn vinh vẻ đẹp của hệ thống Võ Cổ truyền… tăng cường giao lưu, đoàn kết giữ các vùng miền, lãnh thổ trên toàn quốc gia cũng như trên thế giới .
Còn Võ Cổ truyền Dân Tộc chúng ta phải hiểu là hệ thống võ của người Việt Cổ được đúc kết, rèn luyện, trau chuốt và lưu truyền từ thời xa xưa để lại. Nó đi theo suốt quá trình lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc và hiện nay vẫn được truyền dạy ở khắp các vùng miền, lãnh thổ quốc gia. Hệ thống võ này còn được hiểu như là một hệ thống võ lưu truyền của dân tộc (Võ gia truyền). Nó mang đậm nét về kỹ thuật chiến đấu của loài người, muông thú rất độc đáo và đa dạng của người Việt. Nó tồn tại như một báu vật của các dòng họ, linh khí, nền tảng của nền võ học Cổ truyền dân tộc. Môn võ này được truyền dạy trên cơ sở: chiêu thức (hệ thống chuyển động, động tác võ chiến đấu), phương pháp luyện công phu (cách thức để rèn luyện các chiêu thức đạt đến độ hoàn hảo trên các yếu tố chính như Tinh, Nhanh, Mạnh, Chính xác), kinh dịch và phổ khuyết (chỉ rõ những ứng dụng của các chiêu thức võ thuật trong đời sống, sự tồn tại của con người).
B. Ứng dụng của võ thuật đối với đời sống trong các thời kỳ:
Võ thuật dùng để tự vệ sinh tồn, chống bạo loạn, chống chiến tranh xâm lược địa bàn, lãnh thổ quốc gia, y học chữa bệnh, giao lưu văn hóa nghệ thuật, huấn luyện quân đội, an ninh quốc phòng, rèn luyện thể chất, tinh thần, sức chịu đựng, khám phá tiềm năng bí ẩn… của cá nhân mỗi con người.
Võ thuật cổ truyền là một môn văn hóa- nghệ thuật cổ được hình thành trước cả chữ viết nó thường gắn bó rất sâu sắc trong lịch sử dựng nước và giữ nước của tất cả các dân tộc trên thế giới, nó còn là đặc trưng văn hóa của từng vùng miền từng lãnh thổ.
n Võ thuật phương Tây (châu Âu)
Người luyện có thân hình to lớn, đồ sộ vì vậy võ thuật của họ phát triển thiên về ngoại hình, thường sử dụng sức mạnh, kém về sự di chuyển và vận động thường thiên về khả năng chịu lực.
Nó là cơ sở hình thành bộ môn quyền anh, lấy bộ môn này làm nền tảng cho Võ Cổ truyền của võ thuật châu Âu với đặc trưng chủ yếu là 3 quả đấm chính: đấm thẳng, đấm móc, đấm vòng. Đòn đánh ngắn, đơn giản không hoa mỹ, cầu kì…
n Võ thuật phương Đông
Người Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Thái Lan, In-đô-nê-xi-a…thân hình nhỏ bé thiên về tốc độ, yếu về sức mạnh, yếu về khả năng chịu đựng hơn người phương Tây. Nên những đòn đánh thường linh hoạt, hoa mỹ hơn, sử dụng chủ yếu là tốc độ, binh khí, sự dẻo dai linh hoạt và tạo ra được hệ thống Võ Cổ truyền của từng đất nước: Việt Nam có Võ Cổ truyền gồm các môn phái võ…và các hệ thống bài chuẩn quy định của Quốc gia, võ dân tộc (các
|